|
5.2
|
Dịch vụ viễn thông, bao gồm:
1. Dịch vụ viễn thông cơ bản
(a)Các dịch vụ thoại (CPC 7521)
(b)Dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch gói (CPC 7523**)
(c)Dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch kênh (CPC 7523**)
(d)Dịch vụ Telex (CPC 7523**)
(e)Dịch vụ Telegraph (CPC 7523**)
(f)Dịch vụ Facsimile (CPC 7521** + 7529**)
(g)Dịch vụ thuê kênh riêng (CPC 7522** + 7523**)
(o*)Các dịch vụ khác:
-Dịch vụ hội nghị truyền hình (CPC 75292):
-Dịch vụ truyền dẫn tín hiệu video trừ truyền quảng bá[4]
-Các dịch vụ thông tin vô tuyến, bao gồm: Dịch vụ thoại di động (gồm di động mặt đất và vệ tinh); Dịch vụ số liệu di động (gồm di động mặt đất và vệ tinh); Dịch vụ nhắn tin; Dịch vụ PCS; Dịch vụ trung kế vô tuyến.
- Dịch vụ kết nối Internet (IXP)[5]
- Dịch vụ mạng riêng ảo (VPN).[6]
2.Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng
(h) Thư điện tử (CPC 7523 **)
(i) Thư thoại (CPC 7523 **)
(j) Thông tin trực tuyến và truy cập lấy thông tin từ cơ sở dữ liệu (CPC 7523**)
(k) Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) (CPC 7523**)
(l) Các dịch vụ facsimile gia tăng giá trị, bao gồm lưu trữ và chuyển, lưu trữ và khôi phục (CPC 7523**)
(m) Chuyển đổi mã và giao thức
(n) Thông tin trực tuyến và xử lý dữ liệu (bao gồm xử lý giao dịch) (CPC 843**)
(o)Dịch vụ truy cậpInternet (IAS)[7].
|
1. WTO, BTA, AJCEP, AKFTA , ACFTA, AIFTA, AANZFTA, AHKFTA, VJCEP, VKFTA, VN-EaEU FTA, RCEP, EVFTA, CPTPP:
Các cam kết dưới đây phù hợp với “Thông báo về việc đưa ra các cam kết về dịch vụ viễn thông cơ bản” (S/GBT/W/2/REV.1) và “Thông báo về Hạn chế tiếp cận thị trường liên quan đến độ khả dụng của phổ tần” (S/GBT/W/3)”. Để phục vụ các cam kết này, một "nhà cung cấp dịch vụ không có hạ tầng mạng" có nghĩa là doanh nghiệp viễn thông không sở hữu dung lượng truyền dẫn nhưng có hợp đồng thuê dung lượng từ nhà khai thác có sở hữu dung lượng viễn thông, bao gồm cả dung lượng cáp quang biển, kể cả hợp đồng dài hạn. Một nhà cung cấp không có hạ tầng mạng được phép sở hữu các trang thiết bị viễn thông trong phạm vi trụ sở hoạt động của mình và tại các điểm cung cấp dịch vụ công cộng được cho phép (POP).
Đối với các dịch vụ viễn thông cơ bản: (a) Các dịch vụ thoại (CPC 7521); (b) Dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch gói (CPC 7523**); (c) Dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch kênh (CPC 7523**); (d) Dịch vụ Telex (CPC 7523**); (e) Dịch vụ Telegraph (CPC 7523**); (f) Dịch vụ Facsimile; (CPC 7521** + 7529**); (g) Dịch vụ thuê kênh riêng (CPC 7522** + 7523**);
(o*) Các dịch vụ khác: - Dịch vụ hội nghị truyền hình (CPC 75292); - Dịch vụ truyền dẫn tín hiệu video trừ truyền quảng bá[1]; - Các dịch vụ thông tin vô tuyến, bao gồm: + Dịch vụ thoại di động (gồm di động mặt đất và vệ tinh); + Dịch vụ số liệu di động (gồm di động mặt đất và vệ tinh); + Dịch vụ nhắn tin; + Dịch vụ PCS; + Dịch vụ trung kế vô tuyến; - Dịch vụ kết nối Internet (IXP)[2]; và Dịch vụ mạng riêng ảo (VPN)[3].
+ Hạn chế tiếp cận thị trường:
-
Cung cấp dịch vụ qua biên giới không hạn chế, ngoại trừ:
Dịch vụ hữu tuyến và di động mặt đất: phải được cung cấp thông qua thoả thuận thương mại với doanh nghiệp Việt Nam có giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông quốc tế.
Dịch vụ viễn thông vệ tinh: Nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải thông qua thoả thuận thương mại với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông vệ tinh quốc tế của Việt Nam được cấp phép, trừ trường hợp dịch vụ viễn thông vệ tinh cung cấp cho: các khách hàng kinh doanh ngoài biển, các cơ quan chính phủ, các nhà cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng, các đài phát thanh và truyền hình, các văn phòng đại diện chính thức của các tổ chức quốc tế, các cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự, các khu phát triển phần mềm, khu công nghệ cao và các công ty đa quốc gia[4] đã được cấp phép sử dụng trạm vệ tinh mặt đất.
-
Tiêu dùng ở nước ngoài không hạn chế
-
Hiện diện thương mại không hạn chế, ngoại trừ thành lập doanh nghiệp để cung cấp:
Các dịch vụ không có hạ tầng mạng: Cho phép liên doanh với các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 65% vốn pháp định của liên doanh; Dịch vụ mạng riêng ảo (VPN) không vượt quá 70%.
Hiệp định EVFTA và UKVFTA: được phép liên doanh mà không hạn chế việc lựa chọn đối tác. Vốn góp của phía nước ngoài không vượt quá 70% vốn pháp định. Sau 5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực (từ 01/8/2020), Mức hạn chế vốn góp này được tăng lên 75%;
Hiệp định CPTPP: đầu tư nước ngoài có thể không được phép, ngoại trừ thông qua liên doanh hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp viễn thông Việt Nam, với mức vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 65% vốn pháp định của liên doanh hoặc Dịch vụ mạng riêng ảo (VPN) không vượt quá 70%. Sau 5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực (từ 14/01/2019), Mức hạn chế vốn góp này được xoá bỏ.
Các dịch vụ có hạ tầng mạng: cho phép liên doanh với các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 49% vốn pháp định của liên doanh.
51% là nắm quyền kiểm soát trong việc quản lý liên doanh.
Trong ngành viễn thông, các nhà đầu tư nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) sẽ có thể ký mới thỏa thuận hiện tại hoặc chuyển sang hình thức hiện diện khác với những điều kiện không kém thuận lợi hơn những điều kiện họ đang được hưởng.
-
Hiện diện thể nhân - Chưa cam kết, trừ các cam kết chung
+ Cam kết bổ sung:
Việt Nam cam kết thực hiện các nghĩa vụ trong Tài liệu Tham chiếu.
Với các tuyến cáp quang biển công-xooc-xi-om mà Việt Nam là thành viên sở hữu, các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép kiểm soát dung lượng toàn chủ (nghĩa là quyền sử dụng không tách rời IRU hay dạng sở hữu công-xooc-xi-om) kết cuối tại trạm cập bờ được cấp phép tại Việt Nam, và cung cấp dung lượng đó cho các nhà cung cấp dịch vụ quốc tế có hạ tầng mạng và các nhà cung cấp dịch vụ VPN quốc tế và IXP quốc tế được cấp phép tại Việt Nam.
Hiệp định CPTPP, doanh nghiệp nước ngoài có sở hữu dung lượng cáp biển toàn chủ có thể cung cấp cho cả doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet (ISP).
Đối với dịch vụ giá trị gia tăng, gồm: (h) Thư điện tử (CPC 7523 **); (i) Thư thoại (CPC 7523 **); (j) Thông tin trực tuyến và truy cập lấy thông tin từ cơ sở dữ liệu (CPC 7523**); (k) Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) (CPC 7523**); (l) Các dịch vụ facsimile gia tăng giá trị, bao gồm lưu trữ và chuyển, lưu trữ và khôi phục (CPC 7523**); (m) Chuyển đổi mã và giao thức; (n) Thông tin trực tuyến và xử lý dữ liệu (bao gồm xử lý giao dịch) (CPC 843**); và dịch vụ truy nhập Internet (IAS)[5].
+ Hạn chế tiếp cận thị trường:
-
Không hạn chế, ngoại trừ:
Dịch vụ hữu tuyến và di động mặt đất: phải thông qua thoả thuận thương mại với doanh nghiệp viễn thông có giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông quốc tế tại Việt Nam.
Dịch vụ viễn thông vệ tinh: Nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải thông qua thoả thuận thương mại với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông vệ tinh quốc tế Việt Nam được cấp phép, trừ trường hợp dịch vụ viễn thông vệ tinh cung cấp cho: các khách hàng kinh doanh ngoài biển, các cơ quan chính phủ, các nhà cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng, các đài phát thanh và truyền hình, các văn phòng đại diện chính thức của các tổ chức quốc tế, các cơ quan đại diện ngoại giao và lãnh sự, các khu phát triển phần mềm, khu công nghệ cao và các công ty đa quốc gia[6] đã được cấp phép sử dụng trạm vệ tinh mặt đất.
-
Không hạn chế
-
Không hạn chế, ngoại trừ:
Các dịch vụ không có hạ tầng mạng: Cho phép liên doanh với các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 65% vốn pháp định của liên doanh.
CPTPP: Không muộn hơn 5 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, mức hạn chế về vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài được bãi bỏ.
Các dịch vụ có hạ tầng mạng: Ngay sau khi gia nhập, cho phép liên doanh với các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông được cấp phép tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài trong liên doanh không vượt quá 50% vốn pháp định của liên doanh.
51% là nắm quyền kiểm soát trong việc quản lý liên doanh.
CPTPP: đầu tư nước ngoài có thể không được phép, ngoại trừ thông qua liên doanh hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp viễn thông được cấp phép tại Việt Nam với mức vốn góp của phía nước ngoài không vượt quá 51%. Không muộn hơn 5 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam sẽ cho phép mức vốn góp của phía nước ngoài lên 65%.
Trong ngành viễn thông, các nhà đầu tư nước ngoài tham gia các hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) sẽ có thể ký mới thỏa thuận hiện tại hoặc chuyển sang hình thức hiện diện khác với những điều kiện không kém thuận lợi hơn những điều kiện họ đang được hưởng.
-
Chưa cam kết, trừ các cam kết chung
+ Cam kết bổ sung:
Việt Nam cam kết thực hiện các nghĩa vụ nêu trong Bản Tham chiếu gửi kèm theo.
Với các tuyến cáp quang biển công-xooc-xi-om mà Việt Nam là một thành viên sở hữu, các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài sẽ được phép kiểm soát dung lượng truyền dẫn cáp quang biển toàn chủ (nghĩa là quyền sử dụng không tách rời IRU hay dạng sở hữu công-xooc-xi-om) kết cuối tại một trạm cập bờ được cấp phép tại Việt Nam, và cung cấp dung lượng đó cho các nhà cung cấp dịch vụ quốc tế có hạ tầng mạng và các nhà cung cấp dịch vụ VPN quốc tế và IXP quốc tế được cấp phép tại Việt Nam.
2. CPTPP:
Phụ lục I. Danh mục các biện pháp không tương thích (NCM.1)
+ Phân ngành bảo lưu: Dịch vụ viễn thông cơ bản và Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng (không liệt kê như WTO và FTA tương đương)
+ Nghĩa vụ bảo lưu: Đối xử quốc gia (Điều 9.4 Chương Đầu tư và Điều 10.3 Chương Thương mại dịch vụ xuyên biên giới)
+ Cấp chính quyền: Trung ương
+ Các biện pháp bảo lưu: Các biện pháp hành chính.
+ Nội dung bảo lưu:
- Đối với thương mại dịch vụ qua biên giới, Việt Nam bảo lưu đối với Dịch vụ viễn thông qua vệ tinh: “Nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài không được phép cung cấp dịch vụ vệ tinh trừ khi các dịch vụ đó được cung cấp thông qua các thỏa thuận thương mại với nhà cung cấp dịch vụ vệ tinh quốc tế Việt Nam được cấp phép cung cấp dịch vụ vệ tinh ở Việt Nam ngoại trừ dịch vụ vệ tinh được cung cấp cho các khách hàng kinh doanh ngoài khơi, các tổ chức chính phủ, nhà cung cấp dịch vụ có hạ tầng, các đài phát thanh và truyền hình, các văn phòng đại diện của các tổ chức quốc tế chính thức, các cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao, công viên phát triển công nghệ cao và phát triển phần mềm và công ty đa quốc gia[7] và được cấp phép sử dụng các trạm mặt đất.”
- Đối với các nghĩa vụ liên quan đến đầu tư, hiện diện thương mại không gắn với hạ tầng mạng[8] để kinh doanh dịch vụ viễn thông cơ bản và giá trị gia tăng: “đầu tư nước ngoài để cung cấp dịch vụ không có hạ tầng mạng có thể không được phép, ngoại trừ thông qua liên doanh hoặc mua cổ phần của một doanh nghiệp Việt Nam, với vốn chủ sở hữu nước ngoài không vượt quá 65%, hoặc 70% trong trường hợp cung cấp mạng riêng ảo (VPN). Sau không quá 5 năm kể từ ngày Hiệp định CPTPP có hiệu lực, Việt Nam sẽ bãi bỏ bất kỳ hạn chế đối với vốn chủ sở hữu nước ngoài hoặc yêu cầu liên doanh.”
- Đối với các nghĩa vụ liên quan đến đầu tư, hiện diện thương mại có gắn với hạ tầng mạng để kinh doanh dịch vụ viễn thông cơ bản, “đầu tư nước ngoài có thể không được phép ngoại trừ thông qua liên doanh hoặc mua cổ phiếu của doanh nghiệp Việt Nam được cấp phép tại Việt Nam, với vốn chủ sở hữu nước ngoài không được vượt quá 49%.”
- Đối với các nghĩa vụ liên quan đến đầu tư, hiện diện thương mại có gắn với hạ tầng mạng để kinh doanh dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng, “đầu tư nước ngoài có thể không được phép ngoại trừ thông qua liên doanh hoặc mua cổ phiếu của doanh nghiệp được cấp phép tại Việt Nam, với vốn chủ sở hữu nước ngoài không vượt quá 51%. Không muộn quá 5 năm kể từ ngày Hiệp định CPTPP có hiệu lực, Việt Nam sẽ cho phép vốn chủ sở hữu nước ngoài lên 65%.”
- Nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài sẽ được phép sở hữu tới 100% dung lượng truyền dẫn cáp biển tại trạm cập bờ hệ thống cáp biển được cấp phép tại Việt Nam, và có thể bán dung lượng cáp biển đó cho bất cứ nhà khai thác viễn thông được cấp phép, bao gồm các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP).
- Phụ lục II. Danh mục các biện pháp không tương thích (NCM.2)
Nghĩa vụ bảo lưu:
+ “Đối xử quốc gia” (điều 9.4 Chương Đầu tư và điều 10.3 Chương Thương mại dịch vụ qua biên giới (CBTS)).
+ “Đối xử tối huệ quốc” (điều 9.5 Chương Đầu tư và 10.4 Chương CBTS).
+ “Hiện diện địa phương” (điều 10.6 Chương CBTS)
+ “Yêu cầu thực hiện” (điều 9.9 Chương Đầu tư);
+ “Quản lý cấp cao và Ban giám đốc điều hành” (điều 9.10 Chương Đầu tư).
Nội dung bảo lưu: Việt Nam bảo lưu quyền ban hành mới hoặc duy trì bất cứ biện pháp nào liên quan đến hoạt động đầu tư, xây dựng, kinh doanh và khai thác mạng và dịch vụ viễn thông phục vụ các dân tộc thiểu số ở các vùng nông thôn và vùng sâu, vùng xa của Việt Nam.
3. Pháp luật Việt Nam
a) Nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư theo hình thức liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh để cung cấp dịch viễn thông cơ bản. Riêng đối với cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng, đối tác Việt Nam phải là doanh nghiệp viễn thông đã được cấp giấy phép thiết lập mạng viễn thông tại Việt Nam.
b) Một tổ chức, cá nhân đã sở hữu trên 20% vốn điều lệ hoặc cổ phần trong một doanh nghiệp viễn thông thì không được sở hữu trên 20% vốn điều lệ hoặc cổ phần của doanh nghiệp viễn thông khác cùng kinh doanh trong một thị trường dịch vụ viễn thông thuộc Danh mục dịch vụ viễn thông do Bộ Thông tin và Truyền thông quy định.
c) Điều kiện về vốn pháp định và mức cam kết đầu tư quy định tại các Điều 19, 20, 21 Nghị định số 25/2011/NĐ-CP.
|
- WTO, BTA, AJCEP, AKFTA , ACFTA, AIFTA, AANZFTA, AHKFTA, VJCEP, VKFTA, VN-EaEU FTA, RCEP, EVFTA, CPTPP
- Luật An toàn thông tin mạng năm 2015
- Luật viễn thông năm 2009
- Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06/4/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Viễn thông.
- Nghị định số 81/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 25/2011/NĐ-CP.
|